
quá trình sản phẩm vật chất từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng, thông qua hành vi mua và bán. Qua LTHH, trong quá trình lưu thông, hàng hoá biến khỏi lĩnh vực lưu thông, còn tiền tệ luôn luôn ở trong lĩnh vực lưu thông. LTHH bắt đầu bằng hành vi mua và kết thúc bằng hành vi bán, mà mục đích cuối cùng là thoả mãn một nhu cầu sản xuất hay đời sống. Nó là sự trao đổi giữa những vật ngang giá chung (hàng hoá và tiền tệ), không tạo ra một giá trị nào cả. Đẩy nhanh LTHH có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá, phục vụ tiêu dùng, quay nhanh đồng vốn, góp phần phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, củng cố lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả. Căn cứ vào các loại giao dịch thương nghiệp, LTHH chia ra thành LTHH bán buôn, LTHH bán lẻ, LTHH ban đầu và LTHH trung gian. Giá cả hàng hoá do lao động xã hội cần thiết kết hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, do đó chi phí về LTHH có phạm vi hợp lí nhất định và có quan hệ trực tiếp đến lợi nhuận trong sản xuất, kinh doanh; với điều kiện giá cả, tức là giá bán, không thay đổi (về cơ bản là do lượng lao động xã hội cần thiết quy định), thì chi phí về lưu thông càng thấp thì lợi nhuận càng cao và ngược lại, chi phí về lưu thông càng cao (qua nhiều tầng nấc trung gian không cần thiết, mua đi bán lại...) thì lợi nhuận càng thấp, thậm chí hàng hoá không tiêu thụ được. Tổng mức LTHH 1996 ở Việt Nam đạt khoảng 145 nghìn tỉ đồng, tăng 22,6% so với 1995; trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 25 - 26%, hợp tác xã mua bán 1%, các thành phần kinh tế khác 73 - 74%. Kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt trên 7 tỉ USD, tăng 32,1% so với 1996, kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 11 tỉ USD, tăng trên 30% so với 1995.
LTHH gắn với lưu thông tiền tệ; lưu thông tiền tệ với tư cách là tư bản (tức là lưu thông tư bản) có động cơ là giá trị trao đổi; nó khác với lưu thông tiền tệ với tư cách là tiền tệ đơn thuần.
là hoạt động trưng bày, vận chuyển, lưu giữ hàng hoá trong quá trình mua bán hàng hoá, trừ trường hợp vận chuyển hàng hoá của tổ chức cá nhân nhập khẩu hàng hoá từ cửa khẩu về kho lưu giữ.
Nguồn: 89/2006/NĐ-CP